Để đạt được năng suất cao, chất lượng gạo tốt và tối ưu hóa lợi nhuận, việc áp dụng đúng kỹ thuật canh tác lúa theo hướng khoa học và bền vững là vô cùng quan trọng. Bài viết này của Vietnam Light sẽ cung cấp một cẩm nang toàn diện, hướng dẫn bà con nông dân chi tiết từng bước trong quy trình canh tác lúa, từ khâu chọn giống, làm đất, đến cách bón phân, phòng trừ sâu bệnh,… giúp mang lại một vụ mùa bội thu.
Các vụ lúa trong năm tại Việt Nam
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới, chính vì thế lúa nước được gieo trồng ở hầu hết các vùng miền trên cả nước. Hai vùng sản xuất lúa chính của Việt Nam là khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp khoảng 50-55% sản lượng lúa gạo toàn quốc và hơn 90% lượng gạo xuất khẩu.
- Tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ: Do ảnh hưởng của khí hậu cận nhiệt đới với mùa đông lạnh, cây lúa được trồng vào 2 vụ chính: Vụ Đông Xuân và Vụ Mùa.
- Các tỉnh miền Nam: Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao quanh năm, lúa thường được trồng 3 vụ: Vụ Đông Xuân, Vụ Hè Thu, và một số tỉnh ĐBSCL còn trồng thêm Vụ Thu Đông (tháng 8-9 đến tháng 11-12) để tăng sản lượng.
Cách chọn và chuẩn bị giống
Cách chọn giống lúa
Bà con nên chọn các giống lúa được cấp xác nhận theo quy định của Bộ NN&PTNT, phù hợp với khí hậu, đất đai, và mùa vụ.
Các tỉnh Đồng bằng sông Hồng ưu tiên chọn các giống lúa thuần như: Bắc Thơm số 7, Hương Thơm 1, Khang Dân 18, J02, Thiên Ưu 8,… vì phù hợp với khí hậu cận nhiệt đới, đất phù sa, và nhu cầu gạo thơm, dẻo cho thị trường nội địa.

Các giống lúa chất lượng cao như Jasmine 85, OM 5451, Đài Thơm 8, ST24, ST25,… nên trồng nhiều ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long vì phù hợp với khí hậu nhiệt đới, đất phèn mặn, và nhu cầu xuất khẩu gạo hạt dài, thơm.
Xem thêm: Kỹ thuật canh tác giống lúa ST24

Cách chuẩn bị giống
Kỹ thuật ngâm ủ giống đã được bà con sử dụng từ xa xưa giúp loại bỏ mầm bệnh và kích thích hạt nảy mầm đồng đều.
- Ngâm hạt giống theo phương pháp 3 sôi 2 lạnh (54 độ C) trong thời gian 15-20 phút, loại bỏ lép lửng rửa sạch, sau đó ngâm tiếp trong nước sạch. Phương pháp này nhằm diệt các loại nấm và vi khuẩn gây hại bám trên vỏ trấu.
- Thời gian ngâm 24-30 giờ, cứ 5-6 giờ thay nước 1 lần sau đó vớt ra rửa sạch để tránh nước bị chua.
- Sau khi ngâm đủ thời gian, đem ủ trong bao tải hoăc thúng có lót rơm rạ ở nhiệt độ khoảng 30 – 35°C. Trong quá trình ủ phải thường xuyên kiểm tra và trộn đảo hạt giống từ trên xuống, dưới lên, trong ra, ngoài vào. Nếu hạt giống khô và nóng quá, có nhớt dính tay thì rửa sạch hạt giống lại rồi tiếp tục ủ để hạt giống nảy mầm đều.
- Khi chiều dài rễ dài bằng 2/3 chiều dài hạt thóc thì mang ra gieo sạ. Đối với sạ hàng chỉ cần ủ khi mầm nứt nanh (mép sáo) thì đem gieo.

Làm đất
- Vụ Đông Xuân: Dọn sạch cỏ bờ trước khi cày bừa. San phẳng mặt ruộng bằng máy cày bánh lồng để làm giảm lượng nước tưới và tăng hiệu quả sử dụng phân bón.
- Vụ Hè Thu: Cày đất sâu để làm tơi đất, phá vỡ tầng đất cứng và tạo điều kiện cho rễ lúa phát triển, đồng thời vùi lấp tàn dư thực vật và cỏ dại, hạn chế sâu bệnh. Với đất sét, cần cày sâu hơn để cải thiện cấu trúc đất. Sau khi cày, bà con nên phơi ải từ 7-10 ngày để tiêu diệt mầm bệnh, côn trùng và cỏ dại.
Kỹ thuật gieo sạ và cấy lúa
Kỹ thuật gieo sạ
- Sạ hàng: Dùng lượng giống từ 100-120kg/ha. Khoảng cách giữa các hàng là 20cm. Lúa mọc theo hàng giúp dễ chăm sóc, bón phân và quản lý dịch hại.
- Sạ lan (sạ vãi): Đây là phương pháp truyền thống vẫn được bà con áp dụng xưa nay (sử dụng nhiều ở khu vực miền Bắc). Lượng giống: 120-150kg/ha. Cần đảm bảo gieo đều tay để mật độ lúa không quá dày hoặc quá thưa.
Kỹ thuật cấy
- Thời điểm: Lúc mạ 10-15 ngày tuổi có thể đem cấy, không để mạ quá 15 ngày tuổi vì mạ sẽ yếu do thiếu dinh dưỡng.
- Mật độ: Khoảng 40-45 khóm/m² (hàng cách hàng 15cm, cây cách cây 15cm), cấy 3-5 dảnh/khóm. Cấy nông tay để lúa nhanh bén rễ và đẻ nhánh khỏe.
- Mực nước: Giữ mực nước nông (1-2cm) khi cấy và trong 2-3 ngày sau đó.
Kỹ thuật cấy dặm
Cấy dặm là kỹ thuật quan trọng để đảm bảo mật độ đúng lúa trên ruộng, thực hiện ở những nơi lúa không mọc hoặc bị chết.
- Đối với lúa sạ: Thực hiện khi lúa có 4-5 lá (10-15 ngày sau sạ).
- Nhổ mạ ở nơi dày hoặc từ mạ dự phòng cấy vào chỗ thưa.
- Dùng tay hoặc que nhỏ tạo lỗ nông (1-2 cm) trên đất, đặt 2-3 cây mạ/khóm vào lỗ, ấn nhẹ đất xung quanh để cố định rễ.
- Đối với lúa cấy: Thực hiện sau khi cấy chính 3-7 ngày (khi cây mạ bắt đầu bén rễ nhưng chưa đẻ nhánh). Dùng mạ dự phòng để cấy vào những khóm bị chết.
- Cấy 2-3 dảnh/khóm (tương tự mật độ cấy chính, ví dụ: 44-45 khóm/m² với khoảng cách 15 cm x 15 cm, hoặc 35-45 khóm/m² với khoảng cách 20 cm x 12-13 cm).
- Ấn đất nhẹ quanh gốc để cố định rễ, đảm bảo cây đứng thẳng.
Điều tiết nước khi canh tác lúa
Việc tưới nước khoa học theo từng giai đoạn sinh trưởng không chỉ tiết kiệm nước mà còn giúp cây lúa phát triển tối ưu.
- Giai đoạn mạ – đẻ nhánh: Giữ mực nước nông 3-5 cm để lúa đẻ nhánh khỏe. Có thể áp dụng kỹ thuật tưới “khô cạn xen kẽ”, rút cạn nước 2-3 ngày để rễ ăn sâu, cứng cây.
- Giai đoạn làm đòng – trỗ bông: Đây là giai đoạn cây cần nước nhất. Luôn giữ mực nước ổn định 3-5 cm.
- Giai đoạn vào chắc – chín: Giữ mực nước 5-10 cm để lúa ngậm sữa, vào chắc tốt nhất.
- Trước thu hoạch: Rút cạn nước hoàn toàn trước khi thu hoạch 7-10 ngày để ruộng khô, thuận lợi cho việc gặt và giúp lúa chín tập trung.
Kỹ thuật bón phân cho lúa
Bón phân cân đối là yếu tố cốt lõi để cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây. Dưới đây là kỹ thuật bón phân cho lúa được khuyến nghị để đạt hiệu quả cao nhất. Khuyến khích sử dụng 1,5-3,0 tấn phân hữu cơ. Dưới đây là bảng lượng phân bón đa lượng mà bà con có thể tham khảo trên 1 ha:
| Giai đoạn | Thời điểm | Loại phân và liều lượng tham khảo | Mục đích |
|---|---|---|---|
| Bón lót | Trước khi cày bừa lần cuối | Phân chuồng hoai mục (5-7 tấn) + 350-400 kg Lân Super/Lân nung chảy | Cải tạo đất, cung cấp dinh dưỡng nền |
| Bón thúc lần 1 | 7-10 ngày sau sạ/cấy | 60 kg Urê + 30 kg Kali | Giúp lúa bén rễ, đẻ nhánh sớm và tập trung |
| Bón thúc lần 2 | 18-22 ngày sau sạ/cấy | 90 kg Urê + 60 kg Kali | Thúc đẩy quá trình đẻ nhánh, tăng số nhánh hữu hiệu |
| Bón đón đòng | Khi lúa có tim đèn (đòng 1-2 mm) | 30-40 kg Urê + 90 kg Kali | Quyết định số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc |
| Bón nuôi hạt | (Tùy chọn) Phun phân bón lá sau trỗ đều | Các loại phân bón lá giàu Kali, Canxi, Bo | Giúp lúa trỗ đều, tăng tỷ lệ hạt chắc, sáng hạt |
Quản lý dịch hại tổng hợp trên ruộng lúa
Một kỹ thuật canh tác lúa bền vững là phải biết áp dụng nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc BVTV (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng phương pháp). Ưu tiên các sản phẩm có nguồn gốc sinh học, thuốc hóa học nhóm có độc tính thấp, an toàn cho thiên địch và môi trường.

Phòng trừ sâu bệnh hại chính cho lúa
- Ốc bươu vàng: Phá hoại lúa ở giai đoạn mạ và đầu đẻ nhánh, ăn lá và thân lúa, gây thiệt hại nặng. Thường xuất hiện ở ruộng trũng và ngập nước.
- Dùng các biện pháp thủ công bằng việc vớt ốc, nhặt ốc, dùng bẫy (lá chuối, bã mía) để bắt ốc trưởng thành.
- Thuốc hóa học: Sử dụng hoạt chất Metaldehyde (Dead Snail 6GR, Snailkill 6GR) hoặc Niclosamide (Bayluscide 700WP, Niclosamide 70WP) ở nơi trũng có ốc.
- Thuốc trừ bệnh đạo ôn: Do nấm Pyricularia oryzae (hoặc Magnaporthe grisea) gây ra, tấn công lá, cổ bông, đốt thân, hạt ở mọi giai đoạn, đặc biệt ở giai đoạn mạ, đẻ nhánh, và trỗ bông.
- Phun thuốc phòng trừ khi bệnh mới xuất hiện (tỷ lệ bệnh 5-10% trên lá) hoặc trước khi lúa trỗ (5-7 ngày) để phòng đạo ôn cổ bông.
- Thuốc hóa học: Tricyclazole (Beam 75WP), Isoprothiolane, Fenoxanil (Ninja 35EC), Azoxystrobin (Till Mát 400SC). Phun 2 lần nếu cần (lần 2 sau 5-7 ngày).
- Sử dụng chế phẩm sinh học chứa Bacillus subtilis hoặc Trichoderma để tăng sức đề kháng cho lúa.
- Bệnh lem lép hạt: Do nấm (Curvularia, Fusarium, Alternaria) hoặc vi khuẩn gây ra, khiến hạt lúa lửng, lép, đổi màu (nâu, đen), giảm năng suất và chất lượng gạo. Thường xuất hiện ở giai đoạn trỗ bông đến chín sữa, khi nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, mưa nhiều.
- Phun thuốc phổ rộng ở giai đoạn đòng trỗ: Hoạt chất như Azoxystrobin và Difenoconazole (Till Mát 400SC). Hexaconazole (Anvil 5SC): Kiểm soát nấm gây lem lép hạt. Propiconazole (Tilt 250EC): Hiệu quả với bệnh nấm ở giai đoạn trỗ.
- Phun phòng trước khi lúa trỗ 5-7 ngày, đặc biệt ở ruộng có tiền sử bệnh.
- Sâu cuốn lá nhỏ: Thăm đồng thường xuyên, bảo vệ thiên địch.
- Phun thuốc khi sâu non mới xuất hiện (trước khi cuốn lá): Hoạt chất như Chlorantraniliprole (Voliam Targo 063SC), Emamectin benzoate (Solo 350SC).
- Chuột: Tổ chức chiến dịch diệt chuột cộng đồng, dùng bẫy, rào chắn nilon. Sử dụng thuốc diệt chuột sinh học an toàn.
Hướng dẫn phòng trừ cỏ dại
- Làm đất kỹ, san phẳng mặt ruộng.
- Sử dụng thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm (phun sau sạ 1-3 ngày) như Pretilachlor, Butachlor.
- Sử dụng thuốc diệt cỏ hậu nảy mầm (khi cỏ có 2-3 lá) như Bispyribac sodium, Pyrazosulfuron Ethyl.
- Luân phiên các loại thuốc để tránh cỏ kháng thuốc.
Kết luận
Kỹ thuật canh tác lúa đúng đắn là sự kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm truyền thống và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Bằng việc thực hiện nghiêm ngặt các bước từ chọn giống, làm đất, chăm sóc, quản lý dịch hại đến thu hoạch, bà con nông dân không chỉ đảm bảo một vụ mùa thắng lợi về năng suất mà còn nâng cao giá trị hạt gạo Việt trên thị trường.
Hy vọng những hướng dẫn chi tiết trong bài viết này sẽ là người bạn đồng hành đáng tin cậy trên đồng ruộng của bà con. Chúc bà con một vụ mùa bội thu!

